Trầm hương, thực trạng, lợi ích, thách thức và triển vọng của ngành lâm nghiệp

Nói về Trầm (tên giao dịch thương mại Quốc tế Agarwood hay Eaglewood) có lẻ nhiều người biết về công dụng và giá trị cực kỳ lớn của nó trên thực tế hiện nay, tuy nhiên nói về cây Trầm hương (Tên khoa học Aquilaria crassna Pierre ex Lex, tên địa phương là Dó bầu) đặc điểm sinh trưởng, phát triển, nguyên lý tạo Trầm từ cây Trầm hương có lẻ còn quá mới mẽ, lạ lẫm với nhiều người và xung quanh vấn này còn nhiều ý kiến khác nhau.

Nói về Trầm (tên giao dịch thương mại Quốc tế Agarwood hay Eaglewood) có lẻ nhiều người biết về công dụng và giá trị cực kỳ lớn của nó trên thực tế hiện nay, tuy nhiên nói về cây Trầm hương (Tên khoa học Aquilaria crassna Pierre ex Lex, tên địa phương là Dó bầu) đặc điểm sinh trưởng, phát triển, nguyên lý tạo Trầm từ cây Trầm hương có lẻ còn quá mới mẽ, lạ lẫm với nhiều người và xung quanh vấn này còn nhiều ý kiến khác nhau.
Ở Việt Nam có rất nhiều loài thực vật vô cùng quý hiếm, nhiều tài liệu khoa học khẳng định: "Bên cạnh nhóm cây dược liệu, nước ta còn có một nhóm cây chứa tinh dầu mà tinh dầu của chúng có thể làm được dược liệu, hương liệu và thực phẩm quí báu … Trầm là phần gỗ biến đổi về chất ở cây Trầm hương là một trong những loài trong nhóm đó có tinh dầu dùng làm hương liệu và dược liệu quý". (Theo Việt Nam đất nước giàu đẹp-Nxb Sự Thật, năm 1978).

Ngày xưa trầm hương là sản vật hết sức quí hiếm. Ngày nay trầm hương vẫn được coi là lâm sản có giá trị thương mại Quốc tế nhất. Con người đã khai thác và sử dụng trầm hương từ hàng ngàn năm qua, nhất là vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, nạn khai thác có tính chất tàn phá, làm cho loài cây tạo ra trầm hương có nguy cơ bị tuyệt chủng. Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực cứu loài cây này ra khỏi nguy cơ tuyệt chủng bằng chứng cụ thể là ban hành Nghị định số 18/HĐBT, ngày 17/01/1992, quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng và chế độ quản lý đã xếp cây Trầm hương vào nhóm thực vật IA, là những thực vật đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế, có số lượng, trữ lượng rất ít hoặc đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và nghiêm cấm khai thác, sử dụng.

Bảo tồn và phát triển loài cây có giá trị đặc biệt này là cấp thiết. Những năm gần đây, trồng cây Trầm hương để tạo Trầm đã phát triển ở nhiều vùng trong cả nước (Hà Tỉnh, Quảng Nam, Bình Đình, Phú Yên, Khánh Hòa...). Từ thực tiễn của nhà nông và nghiên cứu của khoa học đã thu được kết quả bước đầu rất khả quan, mở ra hướng phát triển ngành sản xuất trầm hương nhân tạo ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc tạo trầm còn nhiều điều bí ẩn và có nhiều ý kiến trái chiều nhau.

Trong phạm vi bài viết này tác giả xin giới thiệu một số thông tin về loài cây này giúp bạn đọc có thêm tư liệu về cây Trầm hương và sản phẩm của nó.

1. Đặc điểm sinh học, sinh thái học và phân bố của cây Trầm hương.

Theo tài liệu Cây gỗ rừng Việt Nam: "Cây Trầm hương là cây gỗ lớn có thể cao 20-30m, đường kính 50-80 cm hoặc hơn, tán thưa, thân thẳng, vỏ màu xám, nhiều xơ. Lá đơn, mọc cách có dạng hình trứng, đầu mũi nhọn, phiến lá dài 8-12 cm, rộng 3-6 cm, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới hơi xám, mép lá gợn sóng. Cây trên 5 tuổi có thể ra hoa. Hoa lưỡng tính, hình chuông, màu trắng, có nhiều lông ở miệng. Quả nang hình trứng, dài 3-4 cm; mỗi quả thường cho một đến hai hạt, hạt chín có màu đen. Trầm hương là cây mọc nhanh, ở tự nhiên mức tăng trưởng có thể 1,0-1,2 m/năm đối với chiều cao, 1,5-2,5 cm/năm đối với đường kính; gỗ màu trắng hoặc màu vàng nhạt, mềm, nhẹ, không phân biệt giác, lỏi. Trầm hương là cây trung tính, lúc nhỏ ưa bóng, khi lớn ưa sáng, mọc rãi rác trong các khu rừng thuộc kiểu ẩm nhiệt đới nguyên sinh hoặc thứ sinh, xanh quanh năm, sống thích hợp trong rừng hỗn giao, cây lá rộng. Cây Trầm hương có thể tái sinh bằng chồi hoặc bằng hạt, sinh trưởng, phát triển trong các điều kiện: Nhiệt độ từ 15-360C vào ban ngày, 5-250C vào ban đêm, tối thích hợp 22 - 290C; lượng mưa hàng năm trên 1.200 mm; độ ẩm >80%; độ cao từ 300 -1.000m, tập trung ở độ cao 500-700m, độ dốc trên 250. Cây Trầm hương có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất núi, đất đỏ xám, đỏ vàng, đất feralit; thích hợp nhất là đất nâu vàng, đất thịt pha cát còn tính chất rừng, có tầng canh tác sâu và nhiều mùn. Loài Trầm hương có khả năng cho Trầm là cây bản địa, có diện phân bố rộng khắp rừng núi nước ta, tập trung ở vùng núi Bắc Trung bộ, Trung Trung bộ, Nam Trung bộ, Tây nguyên, Đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang, vùng Bảy núi tỉnh An Giang.



Thân, lá, quả cây trầm hương (Ảnh sưu tầm)

2. Cây Trầm hương và sản phẩm của nó.

Sản phẩm chính của cây Trầm hương là Trầm do sự biến đổi phân tử của gỗ dưới ảnh hưởng của một loại bệnh gây ra. (Cây thuốc Campuchia, Việt Nam, Lào-Alfred Pe'telot, 1954). Đặc điểm nổi bật của Trầm là tỏa mùi thơm đặc biệt lúc đốt hoặc chưa đốt. Khi hàm lượng dầu lớn hơn 25%, trầm hương có thể chìm trong nước. Loại trầm hương cao cấp có thể đạt hàm lượng dầu 60-80%. Căn cứ mức độ nhiễm dầu, màu sắc, hương vị, hình dáng, trọng lượng, xuất xứ … mà trầm hương có các tên gọi khác nhau như: Trầm mắt tử, trầm mắt đảo, trầm bọ sánh, trầm bông, trầm da báo, trầm điệp lá, trầm điệp trai, trầm kiến xanh, trầm rục, trầm sanh … Theo phẩm cấp, trầm hương được xếp thành 3 hạng và mỗi hạng chia thành nhiều lọai, như sau:

- Hạng nhất là kỳ nam hay còn gọi là trầm kỳ.

Là loại Trầm có phẩm cấp cao nhất, cho nhiều dầu, nhẹ, mềm, dẻo, nhuyễn, khi nếm có đủ vị chua, cay, đắng, ngọt; tỏa mùi thơm tự nhiên, khi đốt hương thơm đặc biệt, khói xanh, bay thẳng và dài lên không trung. Kỳ nam được chia thành 4 loại:

+ Bạch kỳ: Sắc trắng ngà, xám nhạt, vô cùng quý hiếm, ít khi có, đắt giá nhất.

+ Thanh kỳ: Sắc xanh xám, ánh lục, rất quý hiếm, đắt giá sau bạch kỳ.

+ Huỳnh kỳ: Sắc vàng sẩm, vàng nâu, quí hiếm và đắt giá sau thanh kỳ.

+ Hắc kỳ: Sắc đen chàm, hắc ín, quý và đắt giá sau huỳnh kỳ.

Sách xưa xếp loại kỳ nam: nhất Bạch, nhì Thanh, tam Huỳnh, tứ Hắc.

- Hạng hai là trầm

Là loại Trầm ít dầu, nặng, vị đắng, hầu hết khi đốt mới tỏa mùi thơm, khói màu trắng, bay quanh rồi tan ngay. Theo phẩm cấp, trầm được xếp thành 6 loại :

+ Loại 1, sắc sáp trắng, giá trị cao nhất trong 6 loại trầm;

+ Loại 2, sắc xanh đầu vịt , giá trị sau loại 1;

+ Loại 3, sắc sáp xanh , giá trị sau loại 2;

+ Loại 4, sắc sáp vàng, giá trị sau loại 3;

+ Loại 5, sắc vằn lông hổ, giá trị sau loại 4 ;

+ Loại 6, sắc vàng đốm dầu, giá trị thấp nhất trong 6 loại trầm.

Sách xưa chia trầm hương thành 5 loại: Hoàng lạp trầm, Hoàng trầm, Giác trầm, Tiến hương, Kê cốt hương, trong đó Hoàng lạp trầm là tốt nhất.

- Hạng ba là tốc.

Phần lớn tốc có mức nhiễm dầu ít hơn Trầm, chủ yếu là từ bên ngoài và dài theo thớ gỗ. Có khoảng vài chục loại tốc, với các tên gọi như: Tốc kiến, tốc đá, tốc cá ngừ, tốc hương, tốc lọn, tốc dây, tốc đỉa… Tuy nhiên, có thể xếp các dạng tốc thành 4 nhóm như sau:

+ Tốc đỉa, là nhóm tốc có mức độ nhiễm dầu nhiều trong các thớ gỗ, dạng nhỏ, cở ngón tay, đầu đũa con hoặc như con đỉa.

+ Tốc dây, là nhóm tốc có mức độ nhiễm dầu xen, tạo nhiều vòng giữa các thớ gỗ, thường có dạng tròn, dài, dáng rễ cây.

+ Tốc hương, là nhóm tốc có mức độ nhiễm dầu dạng mảnh, mùi thơm nổi trội hơn các lọai tốc khác.

+ Tốc pi, là nhóm tốc có mức độ nhiễm dầu mỏng, bao quanh bên ngoài các thớ gỗ theo dạng hình tháp, hình ống lớn.

Trong 4 nhóm tốc thì tốc đỉa được đánh giá cao hơn về chất lượng. Tuy nhiên, việc xếp nhóm tốc không nhất thiết theo thứ bật phẩm cấp.

Hiện nay chưa có quy định của Nhà nước hoặc của tổ chức phi Chính phủ về tiêu chuẩn phân lọai, đánh giá phẩm cấp trầm hương.

Theo TS Lê Công Kiệt, tiêu chuẩn đánh giá trầm hương thường đựa vào : Nguyên xứ, cường độ, loại hương, hình thù, kích cở, màu sắc, trọng lượng, tỷ trọng, độ tinh khiết và loài cây dó tạo ra trầm hương.



Trong giao dịch mua bán, việc phân loại trầm hương phần lớn dựa vào cảm nhận, kinh nghiệm, đồng thuận, thông qua hành vi trực tiếp của con người như nhìn, sờ, gọt, bấm, đốt, nếm, ngửi …



Trầm sau khi sơ chế (Ảnh sưu tầm)

3. Những loài Trầm hương cho Trầm.

Trầm là sản phẩm sinh ra từ cây Trầm hương, nhưng không phải loài Trầm hương nào nào cũng tạo ra trầm. Theo thống kê của ngành thực vật học, thế giới có khoảng 25 loài, nhưng chỉ 15 loài có khả năng cho trầm gồm: Aquilaria crassna; Aquilaria baillonii; Aquilaria sinensis hoặc A.chinesis; A.borneensis; Aquilaria malaccensis; Aquilaria gollocha; A.hirta; A.rostrata; A.beccariana; A.cummingiana; A.filaria; A.khasiana; A.microcarpa; A.grandiflora; A.bancana.

Ở Việt Nam, theo các nhà phân loại thực vật (Phạm Hoàng Hộ , Vũ Văn Cần, Lê Mộng Chân, Vũ Văn Dũng, Đinh Nghĩa Thìn …) thì chỉ loài Trầm hương thuộc chi (Aquilaria) thuộc họ trầm hương (Thymelaceae) mới có khả năng cho Trầm. Theo GS Phạm Hoàng Hộ, chi Aquilaria thuộc họ trầm hương có khả năng cho Trầm chất lượng cao được định danh là:

- Aquilaria crassna (cây dó bầu, Trầm hương);

- Aquilaria baillonii (cây dó baillonii; dó gạch);

- Aquilaria banaensis (cây dó Bà Nà; dó me).

4. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tạo trầm.

Cơ sở lý luận của việc tạo trầm được xác định là trong quá trình sinh trưởng, do những tác động nào đó, gây ra những "tổn thương/nhiễm bệnh", cây Trầm hương sản sinh ra một chất dạng nhựa (nhựa cây) nhằm chống lại sự "tổn thương/nhiễm bệnh" đó và được hiểu như chất kháng thể trong cơ thể sinh vật để chống lại các tác nhân gây bệnh bên ngoài. Chất nhựa này lâu ngày cây tích tụ lại một chổ hoặc lan dần ra theo các vị trí lan truyền của mầm bệnh, chất này làm biến đổi các phân tử gỗ, tạo nên nhiều màu sắc (đen, nâu, chàm, xám, … ), nhiều tính chất (cứng, mềm, dẻo, dòn …), nhiều mùi vị (đắng, cay, chua, ngọt, … ), nhiều hình dáng (tròn, xoắn, nhọn, dài, … ), ở nhiều vị trí (thân, cành, rễ) trong cây Trầm hương đó chính là Trầm.

Cây Trầm hương sinh ra Trầm là do: "Sự biến đổi phân tử của gỗ dưới ảnh hưởng của một lọai bệnh gây ra"(Cây thuốc Campuchia, Việt Nam, Lào-Alfred Pe'telot, 1954 ). "Trầm hương là những phần gỗ bệnh lý xuất hiện ở chi Aquilaria dưới tác động của tác nhân gây bệnh là một loại nấm thuộc nhóm bất toàn" (Trầm hương, Nxb KH & KT, 1991).

Theo những người khai thác trầm trước đây, do kinh nghiệm, họ tác động có ý thức vào cây dó tìm được trong rừng bằng cách khoét trên thân cây những lổ có kích thước khác nhau hoặc chặt (còn gọi là mở miệng), nhiều năm sau quay lại khai thác được trầm.

Từ lâu người ta đã biết cây Trầm hương ở tự nhiên có trầm là cây bị bệnh. Biểu hiện của cây bị bệnh là tán lá ngừng phát triển, chót cành ngừng ra lộc, lá chuyển từ màu xanh đậm sang màu xanh vàng. Khi trầm trong cây Trầm hương phát triển tăng lên về số lượng và chất lượng thì lá chuyển thành màu vàng, rụng nhiều, vỏ cây xuất hiện sần sùi, một số cành bắt đầu khô. Từ lúc cây mới nhiễm bệnh "ăn trầm" đến khi trầm có chất lượng cao phải mất vài chục năm hoặc lâu hơn.

Trầm ở thiên nhiên có thể hình thành bất kỳ nơi nào trên cây, nhưng phần nhiều tập trung ở phần thân gần gốc và rễ. Số lượng và chất lượng Trầm khai thác ở thiên nhiên phụ thuộc vào các yếu tố như loài và tuổi cây, đất đai, địa hình, khí hậu thời tiết, thời gian nhiễm bệnh tụ trầm … và ở mỗi nơi, mỗi vùng Trầm thu được trên những cây "nhiễm bệnh" không giống nhau về kích cở, màu sắc, trọng lượng, thứ hạng, mùi vị. Riêng kỳ nam chưa có tài liệu nào cho biết sự hình thành của chúng ở loài nào hay do một loại nấm đặc biệt nào đó, trong điều kiện sinh trưởng khác thường nào đó … tạo nên. Tuy nhiên, theo những người khai thác và mua bán chuyên nghiệp, kinh nghiệm lâu năm thì kỳ nam chỉ tìm thấy ở một số vùng nhất định ở tỉnh Kon Tum, Đăk Lăk, Khánh Hoà, Lâm Đồng.

5. Công dụng và giá trị của Trầm.

Trầm được biết từ hơn 2.000 năm trước, có rất nhiều công dụng, cụ thể là:

- Trầm hương là dược liệu quý.

Theo Đông y, Trầm là vị thuốc quý hiếm, có vị cay, tính ôn, vào ba kinh: tì, vị, thận; có tác dụng dáng khí, nạp thận, bình can tráng nguyên dương, chữa các bệnh đau bụng, đau ngực, nôn mửa, hen suyển, lợi tiểu, giảm đau, trấn tĩnh, hạ sốt, cấm khẩu, thổ huyết, khó thở, kích dục …

Theo Lê Trần Đức trong cuốn "Thân thế và sự nghiệp y học của Hải Thượng Lãn Ông" (1971) thì từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên nhân dân ta đã dùng trầm hương để phòng bệnh, chữa bệnh. Vào thế ký thứ XIV, trong Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh đã viết về trầm hương: "Vị cay, khí rất thơm, tính ấm, thông quan, trị phong độc, trúng độc, trừ tà, ấm dạ dày, bổ nguyên dương, tiêu hoá".

Trong tác phẩm Lĩnh Nam bản thảo (quyển thượng và quyển hạ) thuộc bộ sách Hải thượng y tông tâm lĩnh của Hai Thượng Lãn Ông cũng như trong cuốn "Tủ thuốc nhân dân" (1953 - 1954) của Võ Văn Hưng ; "Việt Nam dược vật thực dụng" (1957) của Đỗ Phong Thuần; "Đông y gia truyền" (1957) của Lê Văn Khuyên; "Dược liệu Việt Nam" (1978); " Y học Cổ truyền dân tộc " ( tập II - 1985) của Trường Đại học Y dược Hà Nội ; "Hiểu biết cơ bản về phương dược theo Y học cổ truyền" (1983) của Nguyễn Trung Hoà; " Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" (tái bản năm 2004) của Đỗ Tất Lợi và nhiều tài liệu khác về dược liệu, đông y, đều cho trầm hương là dược liệu quý, sử dụng trong hàng trăm bài thuốc y học cổ truyền, chữa bệnh rất hiệu nghiệm.

Theo Tây y, Trầm có tính kháng sinh, tạo kháng thể mạnh (diệt khuẩn, làm lành vết thương), có tác dụng chữa một số bệnh như bệnh về tim mạch (suy tim, đau ngực), bệnh về hô hấp (hen suyễn), bệnh về thần kinh (an thần, mất ngủ, giảm đau, trấn tĩnh …), bệnh về tiêu hoá (đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy), bệnh về tiết niệu (bí tiểu tiện). Đặc biệt có thể dùng Trầm hương để chữa trị ung thư tuyến giáp.

- Tính chất đặc biệt của tinh dầu Trầm hương.

Tinh dầu được chiết suất từ Trầm hoặc từ gỗ cây Trầm hương đã có trầm, là chất lỏng sánh, nhớt, dẻo, màu vàng hoặc màu hổ phách, có mùi thơm đặc trưng. Tinh dầu tốt được chiết suất từ Trầm hương loại tốt và ngược lại. Tuy nhiên, những cây Trầm hương sinh trưởng lâu năm (hơn 10 măm trở lên) có thể cho tinh dầu, nhưng chất lượng thấp.

Tinh dầu có giá trị đặc biệt là dùng làm chất định hương (giữ cho hương thơm lâu và đậm mùi), được sử dụng cho sản xuất các loại chất thơm, các loại nước hoa, mỹ phẩm cao cấp, đắt tiền và có tính chất huyền bí, linh thiêng đối với một số tôn giáo, nhất là đối với Hồi giáo.

Mùi thơm của tinh dầu Trầm vừa phảng phất mùi của đinh hương, vừa có mùi thơm của hoa hồng. Nhờ có tinh dầu Trầm mà các hoá mỹ phẩm toát ra mùi thơm êm dịu và quyến rũ bậc nhất. Các loại phấn sáp, các loại kem, các loại nước hoa có tinh dầu Trầm là một hợp chất rất huyền dịu, có khả năng làm biến đổi những đặc tính bên ngoài và bên trong của làn da như xoá vết nám, vết mụn, vết tàn nhang … làm cho lổ chân lông mở ra hay hẹp lại theo sự thay đổi của khí chất mà không tạo ra những phản ứng phụ cho da.

Sử dụng hoá mỹ phẩm có tinh dầu Trầm làm cho da dẻ mát dịu, con người thêm tươi tắn, hưng phấn, vì thế chúng được xem như là người bạn vĩnh hằng của sắc đẹp.

- Tính hấp dẫn của hương trầm

Trầm có tính chất cháy cao, khi đốt tỏa mùi rất thơm và được cho là hương thơm hữu ích bật nhất. Nhiều nước phương Đông có tập quán đốt trầm hương hoặc nhang sản xuất từ Trầm trong dịp cúng lễ tổ tiên, đất trời, thần thánh; đốt Trầm để chữa bệnh, trừ tà, tạo sự may mắn, hưng phấn. Một số tôn giáo đốt Trầm hương trong các nghi lễ được xem là vật giao lưu truyền cảm giữa con người của thế giới thực tại với thế giới thần linh.

Từ thời cổ xưa đến thế giới ngày nay, trong các cung điện, đền đài nguy nga tráng lệ, các chùa chiềng, thánh thất, đình miếu … đốt trầm hương được coi là hình thức dâng cúng linh thiêng cao quý nhất. Ở Nhật Bản ngày xưa cũng như ngày nay, sử dụng Trầm là thể hiện nét thẩm mỹ, quyền lực kinh tế và chính trị.

Thế kỷ thứ II sau công nguyên, người xưa dùng Trầm lót ở đáy giếng (giếng vuông) khi xây kinh đô Champa ở Trà Kiệu, (Quảng Nam), đến khi giới khảo cổ phát hiện vẫn còn mùi thơm.

Trầm còn sử dụng vào các mục đích khác như: Làm vật cất giữ có giá trị, làm quà biếu bang giao, làm vật trang trí đặc biệt nơi ở của vua chúa, của các vị chức sắc tôn giáo cấp cao; mang theo bên mình hoặc cất giữ trong nhà để phòng gió độc, tạo sự may mắn. Trầm còn dùng để ướp xác, để chế tác đồ thủ công mỹ nghệ và một số vật dụng khác …

- Nhu cầu và thị trường mua bán Trầm.

Trầm có nhiều công dụng đặc biệt, khó có sản phẩm thay thế. Nhu cầu trầm vào mục đích làm thuốc chữa bệnh, làm hương liệu sản xuất hoá mỹ phẩm và dùng vào mục đích tín ngưỡng ngày càng gia tăng. Theo CITES, khối lượng mua bán trầm trên thị trường thế giới thời kỳ 1995 - 1997 khoảng 1.350 tấn (số liệu của Đài Loan trong khoảng thời gian này hơn 2.050 tấn). Theo thống kê của TRP (Tổ chức rừng mưa nhiệt đới), khoảng 5 năm gần đây khu vực Đạo giáo và Hồi giáo sử dụng hơn 2.500 tấn trầm các loại. Ngành hoá mỹ phẩm mỗi năm nhu cầu khoảng 5.000 lít tinh dầu trầm loại tốt, nhưng mới đáp ứng được khoảng 100 lít.

Trầm hương mua bán trên thị trường hầu hết là khai thác từ thiên nhiên. Các nước có nguồn Trầm cung cấp cho thế giới tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á và vài nước Nam Á như Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan. Tuy nhiên, nạn khai thác Trầm hương vào những thập niên cuối của thế kỷ XX có tính chất hủy diệt, làm cho nguồn cung cấp Trầm trên thị trường ngày càng cạn kiệt.

Hiện nay và những năm tiếp theo khối lượng trầm hương mua bán trên thị trường sẽ giảm sút nghiêm trọng do nguồn cung cấp từ thiên nhiên đã cạn kiệt và bị ràng buộc bởi sự kiểm soát của Chính phủ các nước và Công ước Quốc tế cấm mua bán các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), nên cung cách xa cầu, làm cho giá cả ngày càng tăng lên. Chẳng hạng, một kg kỳ nam, thập niêm 80 giá từ 1.500 - 5.000 USD, nay tăng lên 15.000 - 50.000 USD (theo lọai); trầm loại 1 từ 800 -1.200 USD, lên 7.000 - 8.000 USD; các loại khác cũng có mức tăng từ 10 đến 15 lần. Tinh dầu trầm hiện nay tùy theo chất lượng, xuất xứ và công nghệ sản xuất, có mức chào bán từ 5.000 đến 80.000 USD/lít.

Thị trường mua bán Trầm và các sản phẩm từ trầm chủ yếu là Đài Loan, Thái Lan, Hồng Kông, Singapore (70% tái xuất); thị trường tiêu thụ trực tiếp là các nước A rập, Nhật Bản (loại trầm hương tốt), khu vực Hồi giáo, Phật giáo và các ngành hương liệu mỹ phẩm, đông y, dược phẩm.

6. Một số nghiên cứu tạo Trầm trên cây Trầm hương.

Đã có thành công bước đầu về tạo trầm ở cây Trầm hương trên cả hai phương diện nghiên cứu và thực tiễn. Những cây Trầm hương đủ điều kiện để tạo trầm thường có thời gian sinh trưởng 5 năm tuổi trở lên, đường kính thân 15-18cm, cây sinh trưởng bình thường. Các phương pháp tạo trầm đang áp dụng hiện nay là:

+ Phương pháp gây tổn thương: đục khoét hoặc đóng sắt vào thân cây. Cách này dễ làm, ít tốn kém, nhưng lâu cho trầm và chất lượng thấp.

+ Mô phỏng tự nhiên nuôi cấy các loại côn trùng (Xén tóc; Kiến) trên thân cây trầm hương. Đây là kinh nghiệm bản địa chưa có công bố kết quả.

+ Phương pháp sinh học: Tạo men (vi sinh) rồi cấy vào thân cây. Cách này khó làm, ít người biết, giá thành cao, nhưng an toàn về mặt sử dụng sản phẩm.

+ Phương pháp hoá chất: Tạo hỗn hợp hóa chất rồi cấy vào thân cây. Cách này phức tạp, nhanh cho trầm, nhưng có thể lưu lại một phần hoá chất có hại.

+ Một số cách tạo trầm khác như kết hợp một số phương pháp trên với nhau.

Hiện đã có sáng chế tạo trầm của các ông: Balnchette; Robert A (Shoreview, MN); Van Beek; Henry Heuveling (Amsterdam, NL) thuộc Dự án sản xuất cây giống, tạo trầm trên cây Trầm hương của Tổ chức rừng mưa nhiệt đới (TRP) ở An Giang. Tuy nhiên, việc chuyển giao công nghệ này cho người dân, còn phải chờ.

Mỗi phương pháp tạo trầm cho kết quả không giống nhau về số lượng, chất lượng, thời gian và phí tổn, nhưng có thể khẳng định con người đã tạo được trầm trên cây Trầm hương là rõ ràng. Tuy nhiên việc nuôi cấy vi sinh tạo trầm vẫn còn là điều bí ẩn, các loại vi nấm; vi khuẩn hoặc virus được nuôi cấy thuộc chủng nào vẫn chưa được công bố. Hiện nay những tổ chức và cá nhân nắm được kỹ thuật tạo trầm chưa nhiều, họ thường giữ bí mật, coi đó là bí quyết riêng. Đã có một số doanh nghiệp, cá nhân chuyên lo dịch vụ tạo trầm trên cây Trầm hương trồng (trong đó có phương pháp tạo trầm bằng vi sinh du nhập từ Thái Lan), nhưng chưa có cơ sở chắc chắn cho sự thành công của các dịch vụ này về mặt khoa học và pháp lý.

7. Nạn hủy diệt cây Trầm hương thiên nhiên và nguy cơ tuyệt chủng.

Khoảng nửa thế kỷ qua, do chiến tranh hủy diệt, do chặt phá bừa bãi, hơn một nữa diện tích rừng nước ta đã bị tàn phá. Hiện nay rừng vẫn tiếp tục bị mất. Mất rừng đồng nghĩa với mất tài nguyên rừng, trong đó có những đặc sản hết sức quý hiếm như trầm hương.

Nạn khai thác Trầm ồ ạt phục vụ cho xuất khẩu vào những thập niên cuối của thế kỷ trước đã làm cho cây Trầm hương có nguy cơ bị tuyệt chủng. Rừng ở các tỉnh phía Bắc hầu như không còn Trầm hương. Rừng ở các tỉnh miền Trung và Tây nguyên, cây Trầm hương coi như cơ bản bị xoá sổ. Rừng ở vùng Bảy núi tỉnh An giang, đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang cũng bị tàn phá khốc liệt.

Phần đông người khai thác Trầm ngày nay thường ít kinh nghiệm và hiểu biết, hễ thấy cây Trầm hương là chặt hạ, băm ra để tìm trầm, thậm chí đến gốc rễ cũng bị đào xới, băm nát.

GS Phạm Hoàng Hộ trong sách "Thực vật ở đảo Phú Quốc" (1985) đã viết: Người "ăn" trầm của chúng ta bây giờ không có kinh nghiệm như người xưa và đốn bừa bãi tất cả những cây Trầm hương, nên loài cây này có hiểm hoạ bị tận diệt. Chúng ta cần phải khẩn cấp gây trồng cây Trầm hương để giữ giống và nghiên cứu cho nhiễm nấm để tạo trầm.

GS sinh học Phan Kế Lộc trong bài viết: Hãy cứu loài thật vật đang bị đe doạ (1986) đã nêu: Một số cây có công dụng đặc biệt như hoàng đàn cho gỗ làm hương, trầm hương cho các mặt hàng kỳ nam và trầm hương có giá trị xuất khẩu cao. Đây là hai loài cây bị khai thác một cách tàn bạo nhất. Chẳng hạn hoàng đàn, sau khi bị đốn thân còn dùng bộc phá để đào bật rễ; trầm hương bị khai thác bất cứ ở vào lứa tuổi nào, người ta dùng dao hoặc rìu bổ dọc thân cây và rể để tìm trầm. Với cách khai thác như vậy thì không cây nào cho hạt giống và sống nổi, hơn thế nữa môi trường sống của chúng ta là rừng cũng bị tàn phá, cho nên chắc chắn những cây quý sẽ bị tiêu diệt trong một tương lai không xa.

Công ước về buôn bán Quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) đã xếp loài Trầm hương có khả năng cho trầm (Aquilaria) vào loài cây hoang dã bị đe dọa tuyệt chủng và nghiêm cấm khai thác buôn bán. Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 18/HĐBT, ngày 17/01/1992, quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng và chế độ quản lý đã xếp cây Trầm hương vào nhóm thực vật IA, là những thực vật đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế, có số lượng, trữ lượng rất ít hoặc đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và nghiêm cấm khai thác, sử dụng. Tuy nhiên, nạn chặt phá khai thác, mua bán trầm hương thiên nhiên từ đó đến nay vẫn liên tục diễn ra.

Diện tích rừng nói chung, diện tích rừng có trầm hương nói riêng càng ngày bị thu hẹp. Không ít loài thực vật đã bị tiêu diệt, sự biến mất của bất kỳ loại thực vật nào, trước hết là những loài đặc hữu, sẽ là những tổn thất không thể nào bù đắp được đối với nền kinh tế cũng như đối với khoa học, đối với thế hệ ngày nay cũng như đối với các thế hệ mai sau " (Trầm hương Nxb KH & KT, 1991).

8. Tình hình gây trồng, phát triển cây trầm hương.

Những năm cuối thập niên 80 của thề kỷ XX, một số người chuyên khai thác Trầm ở Tiên Phước (Quảng Nam), Hoài Ân (Bình Định)...đã đưa cây Trầm hương từ rừng tự nhiên về trồng ở vườn nhà. Sau đó vài ba người đã mày mò tạo trầm trên cây Trầm hương, bước đầu có kết quả. Từ đây cây Trầm hương được trồng rãi rác ở các tỉnh miền Trung và một số dự án, đề tài nghiên cứu về cây Trầm hương và cách tạo trầm được khởi động, trong đó một số đề tài nghiên cứu đáng lưu ý như: Biện pháp gây tạo giống cây Trầm hương; Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành trầm; kỹ thuật tạo trầm trên cây Trầm hương(1987 - 2000) của Trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản thuộc Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam; Dự án sản xuất cây giống, tạo trầm trên cây Trầm hương(2001 - 2006) của Tổ chức rừng mưa nhiệt đới (TRP) ở An Giang.

Từ kết quả nghiên cứu và thực tiễn trồng cây Trầm hương, khoảng 10 năm lại đây, qua thông tin từ các cuộc hội thảo, từ các báo, đài, từ các tổ chức và cá nhân, đã tác động đến nhiều người (nghe hiệu quả kinh tế cao), làm dấy lên phong trào trồng cây Trầm hương khắp các miền trong cả nước, tập trung chủ yếu là khu vực miền Trung, miền Đông Nam bộ và Tây Nguyên.

Theo thống kê của Hội trầm hương Việt Nam, diện tích trồng cây Trầm hương cả nước hiện nay khoảng 15.000-18.000 ha (tương ứng với 15 - 18 triệu cây dó từ 1 năm tuổi trở lên). Nơi có diện tích trồng cây Trầm hương nhiều nhất là Hà Tĩnh khoảng 3.000 ha, Bình Phước khoảng 1.000 ha.

Những mô hình và phương thức trồng cây Trầm hương phổ biến hiện nay là trồng phân tán, trồng xen trong với các lọai cây khác (phần lớn thuộc hộ gia đình, quy mô rất nhỏ); trồng tập trung thuần lọai (phần lớn thuộc các Cty tư nhân, chủ các trang trại, quy mô từ 2ha trở lên). Các mô hình khác như trồng làm giàu rừng (phòng hộ, sản xuất), hợp tác trồng giữa hộ gia đình với doanh nghiệp… có, nhưng chưa nhiều. Đã có một vài dự án trồng cây Trâmg hương, tạo trầm, chế biến xuất khẩu được triển khai gần đây, nhưng quy mô không lớn.

Thực tiễn cho thấy, phương thức trồng xen cây Trầm hương với cây lấy quả, cây lấy gỗ là phù hợp nhất; trồng tập trung thuần loại chỉ nên áp dụng đối với những nơi có điều kiện về nguồn nước tưới và vốn đầu tư nhiều.

Loài cây trồng phổ biến hiện nay là Trầm hương (Dó bầu), được tạo bằng phương pháp gieo hạt. Nguồn cung cấp hạt giống là những cây bố mẹ còn lại trong rừng tự nhiên và từ một số cây trồng vào thập niêm 80, 90 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, phần lớn các cơ sở sản xuất giống cây là của tư nhân, hạt giống thu hái từ những cây chưa tuyển chọn đầu dòng hoặc cây chưa thành thục sinh dục, kỹ thuật gieo ươm hạn chế, làm cho chất lượng giống cây còn những điều đáng lo ngại.

Cây Trầm hương trồng đã xuất hiện một số loài sâu gây hại, chủ yếu là sâu xanh ăn lá họ sinh nga, thường diễn ra vào mùa khô, trên những cây vài năm tuổi trở lên. Một số bệnh như nấm trắng, nhất là bệnh thối vỏ quanh gốc cây thường diễn ra vào cuối mùa mưa, gây héo lá, chết cây từ 3-4 năm tuổi trở lên và bệnh này có hiện tượng lây lan. Sâu ăn lá và nấm trắng đã có thuốc chữa trị, nhưng bệnh thối vỏ quanh gốc cây, hiện nay chưa tìm ra tác nhân gây bệnh và chưa có thuốc đặc trị. Biện pháp tốt nhất để phòng bệnh cho cây là chọn đất, giống và chế độ canh tác thích hợp.

9. Triển vọng và thách thức.

Từ thực tiển sản xuất và như phân tích ở trên, triển vọng của việc trồng cây Trầm hương để tạo trầm, chế biến, xuất khẩu là rất hiện thực và hấp dẫn, điều đó thể hiện ở những điểm sau:

Một là, Trồng Trầm hương để tạo Trầm, chế biến, xuất khẩu, hiệu quả kinh tế rất cao. Đây là động lực trực tiếp thúc đẩy các tổ chức và cá nhân đầu tư vào ngành sản xuất mới này. Thật hấp dẫn và lý tưởng đối với sản xuất lâm nghiệp khi một ha trồng cây Trầm hương mà tạo được Trầm có thể làm ra giá trị 1,5 - 1,8 tỷ đồng/CKSX 10 năm, bình quân gía trị tạo ra 150 -180 triệu ha/năm, trong đó lợi nhuận từ 50 - 60 %.

Hai là, sản phẩm Trầm hương, nhất là tinh dầu có thị trường tiềm năng rộng lớn vì đó là là nguyên liệu có nguồn gốc thảo dược quý hiếm mà ngành hương liệu-mỹ phẩm hướng tới để cho ra những sản phẩm nước hoa, mỹ phẩm được coi là người bạn vĩnh hằng của sắc đẹp và sự quyến rũ của phụ nữ, nhất là tầng lớp phụ nữ thượng lưu, có thu nhập cao…. Các ngành đông y, dược phẩm, các lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là Hồi giáo và Phật giáo, có nhu cầu sử dụng trầm hương ngày càng nhiều. Đây chính là thị trường hiện thực, lý tưởng, có khả năng thanh toán nhanh của ngành sản xuất Trầm hương nhân tạo nước ta.

Ba là, Sự khan hiếm về nguồn cung cấp trầm hương (thiên nhiên cạn kiệt, sự phục hồi tự nhiên hết sức lâu dài) làm cho giá cả có xu hướng ngày càng tăng. Điều này thật sự có lợi cho ngành sản xuất Trầm hương nhân tạo. Một điều hết sức may mắn là cây Trầm hương nhiều và tốt chỉ có ở nước ta và một vài rất quốc gia (Campuchia, Lào). Đó là lợi thế so sánh hết sức quan trọng. Từ kinh nghiệm thành công bước đầu về trồng Trầm hương và tạo được trầm, cùng với khát khao làm giàu, tính năng động sáng tạo của người Việt Nam, có sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, sẽ là cơ hội cho ngành lâm nghiệp phát triển.

Cây Trầm hương được trồng và đã tạo ra Trầm, cho hiệu quả kinh tế cao, nhưng đó mới là kết quả bước đầu, có tính chất tự phát, riêng lẻ. Để sản xuất Trầm hương nhân tạo (trồng cây dó, tạo trầm hương, chế biến, xuất khẩu) trở thành ngành kinh tế sản xuất hàng hóa hiệu quả cao dựa trên lợi thế so sánh của nước ta, phía trước còn nhiều khó khăn, thách thức:

Thứ nhất là trồng cây Trầm hương có chu kỳ kinh doanh tương đối dài (khoảng 10 năm), vốn đầu tư lớn , sản phẩm chưa phải là mặt hàng nhu cầu thiết yếu cho sản xuất và đời sống, nếu không có chính sách hỗ trợ của Nhà nước, nhất là về tín dụng thì không dễ dàng gì phát triển nhanh được. Và điều đó xảy ra, nước ta sẽ chấp nhận đi sau Thái Lan, cho dù Thái Lan không có lợi thế tự nhiên bằng ta.

- Thách thức thứ hai là về công nghệ tạo trầm. Đây là khâu quyết định nhất, nhưng chưa tập trung nghiên cứu, thực nghiệm một cách bài bản, chưa tạo ra sản phẩm đồng lọat, chất lượng tương ứng và chuyển giao rộng rãi. Một thách thức khác cũng không kém phần gay cấn là thông tin về thị trường còn bất cập, rời rạc, chưa được định lượng rõ ràng (mới dựa theo số liệu thương mại lịch sử). Ngoài ra, còn những thách thức khác như: Chất lượng cây giống, các chỉ tiêu về lâm sinh đối với cây dó trồng, sự tương thích giữa các cây trồng xen, bệnh của cây, tạo trầm chất lượng cao, sự hiểu biết về tạo kỳ nam cũng như tổ chức hỗ trợ nghề nghiệp … đang đặt ra khá cơ bản và bức bách.

 

Theo Công Vũ/ http://kiemlam.kontum.gov.vn/

 

Chưa có sản phẩm nào trong giỏ hàng